Tìm kiếm tin tức

 
Luật Đất đai 2013: Quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (tiếp theo)
Ngày cập nhật 16/04/2014

        7. Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QH, KH SD đất):
        Việc lấy ý kiến người dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất  được quan tâm đặc biệt, Điều 43 của Luật Đất đai 2013 quy định:
        - Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp huyện phải được lấy ý kiến nhân dân;
        - Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về QH, KH SD đất cấp quốc gia, cấp tỉnh được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của QH, KH SD đất trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh; việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về QH, KH SD đất cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức tổ chức hội nghị, lấy ý kiến trực tiếp và công khai thông tin về nội dung của QH, KH SD đất trên trang thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện;
        - Nội dung lấy ý kiến nhân dân về QH, KH SD đất gồm các chỉ tiêu QH, KH SD đất, các dự án công trình thực hiện trong kỳ QH, KH SD đất; thời gian lấy ý kiến về QH, KH SD đất là 30 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến.
        - Cơ quan có trách nhiệm lấy ý kiến về QH, KH SD đất có trách nhiệm xây dựng báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân và hoàn thiện phương án QH, KH SD đất trước khi trình Hội đồng thẩm định QH, KH SD đất.

        8. Thẩm định QH, KH SD đất:
        Luật Đất đai 2003 không quy định việc thẩm định QH, KH SD đất; nội dung này được quy định tại Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ, trong đó quy định việc cơ quan quản lý đất đai các cấp chịu trách nhiệm tổ chức Hội đồng thẩm định. Luật Đất đai 2013 đã luật hóa quy định này tại Điều 44 về thẩm quyền thành lập Hội đồng thẩm định như sau:
        - Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng thẩm định QH, KH SD đất cấp quốc gia.
        - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập Hội đồng thẩm định QH, KH SD đất quốc phòng, an ninh và QH, KH SD đất cấp tỉnh.
        - Chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập Hội đồng thẩm định QH, KH SD đất cấp huyện.

        9. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
        Về cơ bản thẩm quyền quyết định, xét duyệt QH, KH SD đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện vẫn theo Luật Đất đai 2003. Tuy nhiên, theo Luật Đất đai 2013, do đã tích hợp QH, KH SD đất cấp xã vào cấp huyện nên cấp huyện không còn thẩm quyền quyết định, xét duyệt QH, KH SD đất (Điều 45); UBND cấp huyện trình HĐND cùng cấp thông qua QH, KH SD đất cấp huyện trước khi trình UBND cấp tỉnh phê duyệt và trình UBND cấp tỉnh phê duyệt KH SD đất hàng năm của cấp huyện.

        10. Tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
        Công tác tư vấn lập QH, KH SD đất chưa được quy định trong Luật Đất đai 2003. Luật Đất đai 2013 (Điều 47) quy định: “Trong quá trình lập QH, KH SD đất, cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì việc lập QH, KH SD đất được thuê tư vấn lập QH, KH SD đất”.

        11. Công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
        Theo Luật Đất đai 2003, việc công bố QH, KH SD đất của địa phương là trách nhiệm của cơ quan quản lý đất đai các cấp. Luật Đất đai 2013 (Điều 48) quy định:
        - UBND cấp tỉnh có trách nhiệm công bố công khai QH, KH SD đất cấp tỉnh tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh;
        - UBND cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai QH, KH SD đất cấp huyện tại trụ sở cơ quan, trên cổng thông tin điện tử của UBND cấp huyện và công bố công khai nội dung QH, KH SD đất cấp huyện có liên quan đến xã, phường, thị trấn tại trụ sở UBND cấp xã.

        12. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 49):
        Để giải quyết trường hợp quy hoạch “treo” làm ảnh hưởng đến các quyền của người sử dụng đất, Luật Đất đai 2013 quy định: Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.
        Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất.
        Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền theo quy định tại các trường hợp trên.
        Điều luật này bổ sung thêm quy định: “khi kết thúc kỳ quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kỳ tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt” đáp ứng yêu cầu về việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng khi quy hoạch sử dụng đất của giai đoạn tiếp theo chưa được phê duyệt và không gây áp lực cho chính quyền trong việc lập QH, KH SD đất trong khi các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất kỳ trước chưa thực hiện hết. Quy định này đảm bảo tính liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

        13. Báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
        Luật hóa Điều 28 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ thành Điều 50 của Luật Đất đai 2013, đưa công tác báo cáo thực hiện QH, KH SD đất thành một nhiệm vụ quan trọng, trên cơ sở đó nâng cao chất lượng của việc thực hiện QH, KH SD đất.

        14. Giải quyết phát sinh về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sau khi Luật có hiệu lực thi hành (Điều 51):
        Khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, đa số QH, KH SD đất của kỳ quy hoạch 2011 đến 2020 và kỳ kế hoạch 2011-2015 của các cấp đã được thông qua hoặc phê duyệt cho nên quy định điều này để xử lý các vấn đề phát sinh./.

Đ.N.Khánh - P.CSGPMB, BT,HT&TĐC
Các tin khác
Xem tin theo ngày  

Chung nhan Tin Nhiem Mang

Thống kê truy cập
Tổng truy cập 9.766.440
Truy cập hiện tại 381 khách