Tìm kiếm tin tức

 
Luật Đất đai 2013: Quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ngày cập nhật 20/03/2014

        Khi thông qua quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm cấp quốc gia, Nghị quyết số 17/2011/QH13 ngày 22/11/2011 của Quốc hội đã đánh giá: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sau 10 năm thực hiện đã đạt được những kết quả tích cực…” nhưng “Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn còn một số hạn chế như: chất lượng của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa cao; tính kết nối liên vùng, liên tỉnh và quản lý quy hoạch còn yếu; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch chưa nghiêm; tình trạng sử dụng đất sai mục đích, lãng phí, kém hiệu quả còn xảy ra ở nhiều nơi; chính sách, pháp luật, việc phân cấp trong quản lý quy hoạch còn bất cập; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đáp ứng được yêu cầu”. Vì vậy, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung có nhiều đổi mới nhất tại Luật Đất đai 2013 (Chương IV với 17 điều từ Điều 35 đến Điều 51) so với Luật Đất đai 2003 (Mục 2 thuộc Chương II với 10 điều từ Điều 21 đến Điều 30) với những thay đổi cụ thể:

        1. Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 35):
Luật Đất đai 2013 đã kế thừa những nguyên tắc của Luật Đất đai 2003, từ thực tế triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời gian qua, đã loại bỏ các quy định cũ bất cập khi thực hiện và đưa ra các quy định cơ bản như sau:
        - “Quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên” và “quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã.” (bỏ quy định: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới” của Luật Đất đai 2003).
        - Luật Đất đai 2013 đã bỏ quy định: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó” của Luật Đất đai 2003 (vì nếu thực hiện đúng theo quy định này sẽ rất khó khăn về quỹ thời gian, nhân lực và kinh phí cho việc đồng thời một lúc triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp).
        - Để đảm bảo ưu tiên điều tiết cho các mục đích sử dụng đất, Luật Đất đai 2013 đã quy định: “Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo ưu tiên quỹ đất cho các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường”.

        2. Hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
        Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã đã được tích hợp vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện,  Luật Đất đai 2013 (Điều 36) quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chỉ còn 3 cấp: cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện và 2 quy hoạch đất có tính chất đặt biệt là quy hoạch đất quốc phòng và quy hoạch đất an ninh.

        3. Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
        Do không còn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; vì vậy, Luật Đất đai 2013 quy định:
        - Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm.
        - Kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh và kỳ kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh là 05 năm. Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm (Điều 37).

        4. Căn cứ lập và nội dung quy hoạch, kế hoạch:
        Luật Đất đai 2003 quy định “căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” và “nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” chung cho cả bốn cấp (có hơn 40 chỉ tiêu) nên có những bất cập: các căn cứ và nội dung giữa quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất các cấp khác nhau, có những căn cứ ở quy hoạch của cấp này có nhưng cấp kia không có; nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp được quy định như nhau nên chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh quá chi tiết.
        Luật Đất đai 2013 quy định căn cứ và nội dung cho việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất riêng cho từng cấp: cấp quốc gia tại Điều 38, cấp tỉnh tại Điều 39 và cấp huyện tại Điều 40 nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế trên.

        5. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh:
        Xây dựng kết cấu của điều luật về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh như quy định của các cấp hành chính để đảm bảo tính thống nhất về mặt pháp luật đối với các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 41).

        6. Trách nhiệm tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 42):
        Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện tương tự như Luật Đất đai 2003, bổ sung một số quy định cụ thể trách nhiệm của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng và đất an ninh (bỏ quy định về trách nhiệm trong việc lập quy hoạch cấp xã của Luật Đất đai 2003).

        (còn tiếp)

Đ.N.Khánh - P.CSGPMB, BT,HT&TĐC
Các tin khác
Xem tin theo ngày  

Chung nhan Tin Nhiem Mang

Thống kê truy cập
Tổng truy cập 9.766.176
Truy cập hiện tại 331 khách