Tìm kiếm tin tức

 
Phát triển kinh tế biển xu thế tất yếu để sinh tồn
Ngày cập nhật 16/08/2018

        Hiện nay, khai thác tiềm năng kinh tế từ biển, đảo là vấn đề quan trọng mang tính chiến lược ở hầu khắp các quốc gia có biển trên thế giới. Đặc biệt, trong bối cảnh các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt thì việc này trở thành xu thế tất yếu trên đường tìm kiếm và bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm cũng như không gian sinh tồn cho loài người trong tương lai. Trước những mục tiêu mang tính chiến lược của các nước trong khu vực đều có liên quan và tạo sức ép lớn đối với nước ta, mục tiêu phát triển kinh tế biển gắn liền với tăng cường sức mạnh QP-AN quốc gia và BVTN, MT biển là yêu cầu cấp thiết không chỉ trong giai đoạn hiện nay mà còn mang ý nghĩa lâu dài.

        Những khó khăn, hạn chế

        Nhìn lại bức tranh kinh tế biển Việt Nam trong thời gian qua, tuy có nhiều những thành tựu đáng kể nhưng vẫn tồn tại và ẩn chứa nhiều nguy cơ, thách thức. Khai thác kinh tế biển chủ yếu là sản xuất nhỏ, các công trình hạ tầng kỹ thuật biển còn yếu kém và chưa đồng bộ. Bên cạnh công tác thăm dò khai thác dầu khí, đánh bắt thủy hải sản, vận tải biển mang lại một số kết quả nhất định, thì hoạt động du lịch chủ yếu diễn ra ở những vùng biển, đảo có vị trí thuận lợi về hạ tầng giao thông (sân bay, bến cảng…) như: Đà Nẵng, Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc… Nhiều vùng biển, đảo như: Quan Lạn, Cù lao Chàm, Lý Sơn, Phú Qúy… tuy có lợi thế lớn để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

        Trong quá trình phát triển kinh tế biển và ven biển vẫn còn một số vấn đề chưa thực sự gắn chặt với lợi ích QP-AN quốc gia; công tác quản lý còn thiên về coi trọng lợi ích kinh tế mà có phần xem nhẹ yếu tố an sinh xã hội; môi trường biển chưa được quan tâm đầu tư, xử lý kịp thời. Tình trạng khai thác tự phát, thiếu hoặc không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích; nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái tạo, chưa khai thác toàn diện tiềm năng biển; các giá trị phi vật chất và có khả năng tái tạo còn ít được chú trọng. Phương thức khai thác tại các vùng biển, đảo của ta vẫn trùng lặp, tốc độ phát triển ồ ạt nhưng thiếu quy hoạch tổng thể, khiến cảnh quan thiên nhiên nhiều nơi đang bị phá vỡ, chưa có hệ thống xử lý xả thải.

        Nguồn nhân lực, CSHT phục vụ các hoạt động dịch vụ biển, du lịch biển, đảo đến nay còn nhiều bất cập. Công tác quy hoạch, quản lý, khai thác thế mạnh của biển ở nhiều địa phương vẫn chưa thực sự được chú trọng. Một số ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ tiềm năng, thế mạnh và vai trò của biển đối với phát triển KT-XH, cũng như công tác QP-AN; chưa chú trọng đến sự gắn kết giữa lợi ích chung với lợi ích thiết thực của cư dân trên các đảo, vùng ven biển.

        Hệ thống luật pháp, chính sách về biển, đảo đến nay vẫn bộc lộ những bất cập, thiếu đồng bộ, chồng chéo, hiệu lực thi hành yếu, tổ chức triển khai thiếu sự phối hợp liên ngành, công tác hỗ trợ pháp lý cho người dân địa phương ít được chú ý. Trong bối cảnh các quốc gia đang hướng ra biển, Biển Đông đang trở thành khu vực tiềm ẩn những tranh chấp phức tạp, nên việc hợp tác và hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế ở khu vực này còn gặp không ít khó khăn, thách thức.

        Giải pháp khả thi

        Trước mắt, cần tập trung triển khai thực hiện tốt Luật TN, MT B&HĐ và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành để bảo đảm sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên, BVMT và các HST B&HĐ; bảo đảm tài nguyên B&HĐ được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững; huy động được tối đa các nguồn lực đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về TN, MT B&HĐ; tăng cường kiểm soát ONMT B&HĐ; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong việc kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển và hải đảo, BĐKH&NBD.

        Cùng với đó, cần tổ chức thực hiện tốt các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; đặc biệt là các nhiệm vụ đã được đề ra trong Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững TN&BVMT biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược QLTH đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Kế hoạch thực hiện các chiến lược này.

        Một trong những giải pháp cụ thể như: Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có biển thực hiện giao khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển; tăng cường điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về B&HĐ; nâng cao năng lực quan trắc, giám sát, dự báo về TN, MT B&HĐ; huy động các nguồn lực, tranh thủ nguồn vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế, đồng thời mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế nhưng có lựa chọn trọng điểm nhằm thu hút đầu tư của các nước, các tổ chức quốc tế, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và tiếp thu công nghệ hiện đại để tăng cường công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học B&HĐ nhằm nâng cao hiểu biết về tiềm năng, lợi thế và tác động bất lợi từ biển, xác lập luận cứ khoa học, tạo sơ sở vững chắc cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển bền vững kinh tế biển và bảo đảm QP-AN quốc gia, xây dựng thể chế, chính sách QLNN về TN&MT biển.

        Bên cạnh đó, cần chú trọng đầu tư cho nhiệm vụ điều tra cơ bản, nghiên cứu B&HĐ để phát triển, khai thác nguồn tài nguyên mới, đặc biệt là khí hydrate (băng cháy), các nguồn tài nguyên ở vùng nước sâu, xa bờ phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo đảm QP-AN quốc gia.

        Nhấn mạnh tới vai trò của nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp KH&CN mới, tiên tiến, hiện đại trong điều tra cơ bản, quản lý, giám sát, khai thác, sử dụng tài nguyên, BVMT B&HĐ; phòng tránh thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên biển, đảo; dự báo, quan trắc, phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường biển; phát triển các ngành kinh tế biển quan trọng. Đồng thời, tập trung nguồn lực xây dựng, triển khai thực hiện Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản TN, MT B&HĐ; Chương trình KH&CN cấp quốc gia về TN, MT B&HĐ; tăng cường đầu tư giám sát, dự báo về TN, MT B&HĐ; thiết lập hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tổng hợp, đồng bộ về TN, MT B&HĐ, trong đó tập trung xây dựng hoàn thiện cơ sở dữ liệu về TN, MT B&HĐ, bảo đảm tính hệ thống, đồng bộ, hiện đại, có độ tin cậy cao; thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp TN, MT B&HĐ, chú trọng xây dựng, tăng dày việc quan trắc, giám sát tự động, liên tục đối với khu vực vùng bờ.

        Triển khai mạnh mẽ, hiệu quả công tác QLTH tài nguyên vùng bờ, cần xây dựng, thể chế hóa cơ chế điều phối, phối hợp đa ngành, liên ngành và liên địa phương về QLTH vùng bờ để tăng cường tính nhất quán, sự thống nhất trong quá trình ra quyết định; giảm thiểu, giải quyết các mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong khai thác, sử dụng tài nguyên, hài hòa lợi ích giữa các bên có liên quan; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, phân cấp quản lý và tăng cường hiệu quả phối hợp trong quản lý, khai thác, sử dụng TN&BVMT vùng bờ; xây dựng và triển khai các mô hình đồng quản lý tài nguyên, sinh cảm và các HST biển và ven biển dựa vào cộng đồng, đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội; tạo sinh kế, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng quyền được hưởng lợi ích của người dân từ các giá trị có được ở vùng bờ.

        Nhanh chóng thiết lập và quản lý chặt chẽ hành lang bảo vệ bờ biển. Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xác định rõ ràng cơ chế phối hợp trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục và giải quyết hậu quả sự cố môi trường biển; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về BVMT đối với các hoạt động có nguy cơ và đang gây ONMT.

        Chủ động thích nghi, vừa ứng phó hiệu quả BĐKH&NBD; đẩy mạnh các hoạt động ứng phó và thích ứng; thực hiện đồng bộ các giải pháp phòng, tránh, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn; khắc phục sạt lở bờ biển; bảo vệ, phục hồi, phát triển rừng ngập mặn, rừng chắn cát ven biển.

        Tăng cường nguồn lực cho điều tra cơ bản, quản lý TN&BVMT B&HĐ, trong đó, tập trung đề xuất tăng mức đầu tư, chi thường xuyên từ ngân sách với tỷ lệ tương ứng với mức tăng đầu tư phát triển kinh tế biển; tăng cường huy động nguồn lực trong xã hội, từ các thành phần kinh tế, nguồn vốn ODA và hỗ trợ của các nước đầu tư cho điều tra cơ bản, quản lý TN&BVMT B&HĐ; nghiên cứu, xây dựng cơ chế tạo nguồn thu từ TN&MT biển để đầu tư trở lại cho điều tra, nghiên cứu về biển, quản lý TN&BVMT biển; tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phục vụ điều tra cơ bản, QLNN tổng hợp tài nguyên, BVMT B&HĐ./.

                                                                               BBT tổng hợp tạp chí Tài nguyên và môi trường
(Kỳ 2 - Tháng 7/2018 của tác giả Bùi Phương Nhung, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội)

Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Tổng truy cập 8.414.694
Truy cập hiện tại 75 khách