Tìm kiếm tin tức

 
Thiên tai lũ lụt và giải pháp phòng tránh
Ngày cập nhật 11/06/2018

        Ở nước ta, hầu hết các thiên tai đều liên quan trực tiếp và gián tiếp đến nước. Lẽ ra, với lượng mưa đồng đều và cao, Việt Nam có đầy đủ nước cho nhu cầu khác nhau. Tuy nhiên, lũ lụt lại là vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam và gây ra những thiệt hại thường xuyên và đáng kể về tính mạng con người và kinh tế.

        Thiệt hại thiên tai nghiêm trọng thường xuyên xảy ra do lũ lụt, đặc biệt là khi có sự kết hợp với các cơn bão. Các cơn bão làm nâng cao mực nước biển hàng mét và gây ra hiện tượng nước dâng ở vùng cửa sông, làm ngập lụt khu vực đất nông nghiệp. Với vận tốc gió cao, các cơn bão phá hủy nhà cửa, tạo thành sóng phá hoại các đê biển bảo vệ các vùng bên trong. Mưa với cường độ cao kết hợp với bão gây nên lũ quét, xuất hiện một cách đột ngột ở các khu định cư và thường xuyên gây ngập các vùng đất thấp. Dòng chảy xuất hiện do mưa bão, sau đó đổ vào sông đó bị đầy trong mùa mưa, tạo thành lũ và gây nguy hiểm cho đê sông và đe dọa tàn phá hàng triệu gia đình. Hầu hết các khu dân cư ở Việt Nam đều sinh sống trong vùng nguy cơ bị ngập lụt. Vì vậy, cả vùng ĐBSH, ĐBSCL và dải đồng bằng hẹp ven biển đều có nguy cơ bị ngập lụt trong mùa mưa và khi có bão lụt xảy ra. Hơn thế nữa, các vùng miền núi xa xôi của đất nước đều chịu ảnh hưởng của lũ quét. Từ đó có thể thấy rằng, hơn 70% dân số của Việt Nam đều có nguy cơ bị ảnh hưởng của thủy tai.

        Để có giải pháp có tính chiến lược, lâu dài yêu cầu các địa phương phải nghiên cứu quy hoạch phát triển hạ tầng, đô thị, xây dựng nông thôn… để không làm ảnh hưởng tới các khu vực chứa nước và hành lang thoát lũ; điều tiết xả lũ không để thiệt hại đến người, tài sản. Các bộ, ngành, địa phương phối hợp xây dựng bản đồ ngập lụt; rà soát quy hoạch thoát lũ ở mỗi địa phương và thoát lũ liên vùng. Xây dựng cơ chế giữa chính quyền địa phương và chủ hồ chứa, xác định rõ trách nhiệm của từng bên. Đặc biệt, cần có chế tài đủ mạnh để xử lý các chủ hồ chứa không tuân thủ quy trình vận hành hồ chứa, gây thiệt hại cho người dân vùng hạ du. Về lâu dài, cần tổ chức điều tra vết lũ, nhận dạng lũ, đánh giá ảnh hưởng, tác động tới đời sống, cơ sở hạ tầng cùng hạ du của các hồ chứa thủy điện, thủy lợi trong đợt mưa lũ, đề xuất giải pháp căn cơ bảo đảm phòng, chống lũ hiệu quả, phù hợp với từng giai đoạn. Đồng thời, tăng cường quản lý, giám sát việc xả lũ của các hồ chứa, điều chỉnh phù hợp với thực tế để đảm bảo tích nước, phục vụ sản xuất. Mặt khác, cần đẩy mạnh việc xây dựng bản đồ ngập lụt hạ du các hồ chứa để làm cơ sở rà soát, điều chỉnh bổ sung các phương án ứng phó với mưa lũ theo phương châm “bốn tại chỗ” nhằm chủ động xử lý kịp thời các tình huống bất thường nhưng đã trở thành tình huống bình thường. Nâng cao công nghệ dự báo bao gồm hệ thống quan trắc, ra-đa, lưới trạm KTTV, nhất là tại các vùng địa hình phức tạp, chia cắt để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác dự báo mưa lũ. Huy động các nguồn lực trong xã hội để đầu tư xây dựng nhiều hơn nữa các trạm đo mưa, mực nước tự động, nhất là đối với các vùng thường xuyên bị ngập lũ, sạt lở đất… Triển khai các giải pháp ưu tiên nâng cao năng lực ứng phó với thiên tai trong điều kiện BĐKH, thiên tai cực đoan.

        Vùng ĐBSCL có nhiều giải pháp chống lũ, ngập lụt, giải pháp đê bao qui mô nhỏ, bao tiểu vùng, với cao trình đê thấp đáp ứng những trận lũ nhỏ là cần thiết, vừa bảo đảm mục tiêu bảo vệ lại không làm ảnh hưởng đến môi trường nước trong các vùng bảo vệ do nước được thay đổi thường xuyên không bị nước tù, nước đọng./.

BBT tổng hợp tạp chí Tài nguyên và Môi trường
(Kỳ 1 - Tháng 5/2018 của tác Nguyễn Hữu Nghĩa Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai)

Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Tổng truy cập 8.414.455
Truy cập hiện tại 8 khách